doc truyen
thuốc giảm cân

Hoa oải hương : Tác dụng an thần

Nghiên cứu của các nhà khoa học Áo mới đây đã xác định, loại thảo dược này có nhiều tác dụng tốt cho sức khoẻ con người và có thể giúp làm giảm sự căng thẳng, lo âu.

Một cuộc thử nghiệm tác dụng của thành phần chiết xuất từ hoa oải hương đã cho kết quả: trên 75% bệnh nhân được điều trị bằng loại thảo dược này cho dấu hiệu được cải thiện đáng kể tình trạng căng thẳng. Các thành phần chiết xuất từ hoa oải hương có tác dụng làm tăng ảnh hưởng của một loại hoá chất trong não.

Nhờ đó, làm giảm hoạt động của các tế bào thần kinh, dẫn tới ức chế vùng não liên quan đến tình trạng căng thẳng. Bệnh nhân bị stress hoặc căng thẳng thần kinh sau khi được điều trị bằng thảo dược chiết xuất từ hoa oải hương đã cho thấy các dấu hiệu ngủ ngon và giấc ngủ sâu hơn.

Theo-Dailmail

Râu ngô chữa bệnh

Bệnh suy nhược cơ thể là trạng thái mệt mỏi, làm việc kém hiệu quả, chứng hư lao, do lao động nặng trong thời gian dài, ăn uống kém chất dinh dưỡng , do mắc bệnh cấp tính nặng nay đang bình phục, phụ nữ sau sinh nở và thời kỳ nuôi con. Một nguyên nhân nữa là do bẩm sinh. Cơ thể suy yếu từ trong bào thai, quá trình phát triển cơ thể chậm chạp. Dù bất kỳ nguyên nhân nào dẫn đến cơ thể suy nhược đều chung một điểm là có sự giảm sút về tinh thần, khí huyết, tân dịch, làm mất sự điều hòa công năng của các tạng phủ. Xin giới thiệu những bài thuốc nam và món ăn chữa bệnh hiệu quả.

Bài 1:Chữa suy nhược cơ thể sau viêm đại tràng, loét dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hóa kéo dài. Bài thuốc gồm: bố chính sâm 16 g, bạch truật 12 g, củ mài 12 g, biển đậu 12 g, ý dĩ 12 g, vỏ quýt 6 g, hạt sen 12 g, hạt cau 10 g, nam mộc hương 6 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần.

Bài 2: Chữa suy nhược cơ thể sau viêm phế quản mạn, lao phổi. Cần thục địa 12 g, mạch môn 12 g, thiên môn 12 g, vỏ rễ dâu 12 g, củ mài 16 g, quy bản 10 g, mạch nha 10 g, vỏ quýt 6 g, bán hạ chế 8 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần.

Bài 3:Trị suy nhược cơ thể ở người già. Dùng thục địa 12 g, hà thủ ô 12 g, củ mài 12 g, củ súng 12 g, nam đỗ trọng 20 g, ba kích 12 g, cao quy bản 10 g, cao ban long 10 g, phụ tử chế 8 g, nhục quế 4 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần. Riêng cao ban long và cao quy bản, sau khi sắc thuốc chắt ra mới cho vào, hoặc tán bột, làm viên hoàn, uống ngày 20-30 g với nước sôi nguội hoặc nước muối loãng.

Bài 4:Dùng cho phụ nữ sau sinh, thiếu máu hoặc người mắc một số bệnh về máu gây thiếu máu. Bài thuốc gồm: quả dâu chín 16 g, hà thủ ô 12 g, long nhãn 12 g, hạt sen 12 g, đỗ đen sao 12 g, lá vông 12 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần.

Bài 5: Chữa suy nhược cơ thể sau một số bệnh truyền nhiễm gây sốt cao, viêm khớp dạng thấp, tăng huyết áp. Cần rau thai nhi 1 cái, đảng sâm (hoặc bố chính sâm) 16 g, thục địa 16 g, đỗ trọng 12 g, ngưu tất 16 g, hoàng bá 8 g, thiên môn 12 g, mạch môn 12 g, bạch linh 12 g, quy bản 12 g. Tán bột, nhào với mật làm viên, uống 20g mỗi ngày, chia làm 2 lần.

Các món ăn chữa suy nhược cơ thể:

Bài 1:Chữa suy nhược do tăng huyết áp. Cần râu ngô hoặc bắp ngô non 30 g, móng giò 1 cái, gừng 5 g, hành và gia vị vừa đủ. Tất cả ninh nhừ. Cách ngày ăn 1 lần, ăn trong 3 tuần liền.

Bài 2: Chữa suy nhược cơ thể ở người gầy yếu và phụ nữ sau sinh. Dùng gà trống non (7-8 lạng): 1 con, quy thân 10 g, đảng sâm 15 g, thục địa 15 g, kỷ tử 10 g, hạt sen 20 g, ngải cứu 20 g, gừng, hành, gia vị vừa đủ. Tất cả hầm nhừ, 1 tuần ăn 2 lần, ăn trong 4 tuần liền.

Bài 3: Chữa viêm suy nhược do phế quản mạn, hen phế quản. Cần chim cút 1 con, cát cánh 15 g, mạch môn 12 g, sa sâm 12 g, đại táo 7 quả, gừng, hành, rượu, gia vị vừa đủ. Tất cả hầm nhừ, cách ngày ăn 1 lần, trong 4 tuần liền.

Theo-Tin sức khỏe

Tỏi ngâm trị bệnh thấp khớp

Theo Đông y, tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng hành khí trệ, làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng. Tỏi không chỉ là loại gia vị thông thường mà còn có công dụng chữa bệnh. Tỏi thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầy bụng, chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, đau bụng do lạnh, phù thũng, tiêu chảy, lỵ, sốt rét, ho gà, mụn nhọt, đỉnh độc, viêm loét lâu liền, rụng tóc, nấm tóc, rắn cắn...

Trong y học, tỏi được dùng vào mục đích chữa bệnh bằng nhiều cách khác nhau, như ăn sống, chế biến thức ăn, ngâm với rượu hoặc giấm. Mỗi ngày ăn 10 gr tỏi sẽ giúp tăng cường khả năng giải độc cho cơ thể. Tỏi có tác dụng gần giống với thuốc kháng sinh; tăng sức đề kháng của cơ thể; giảm nguy cơ mắc các chứng bệnh do vi khuẩn, vi rút xâm nhập; là chất xúc tác giúp cho vết thương mau lành, hạn chế nguy cơ viêm nhiễm; chống lại các bệnh tim mạch; phòng và trị chứng cảm lạnh và cảm cúm rất hay.

Tỏi còn được dùng trong bệnh thấp khớp. Có thể làm như sau: dùng độ 40 gr tỏi (đã bóc sạch vỏ), cắt nhỏ cho vào lọ ngâm cùng với 100 ml rượu trắng (45 độ), ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc lọ, ban đầu chỉ có màu trắng, sau chuyển sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ. Ngày dùng 2 lần (sáng 40 giọt trước khi ăn sáng, và tối 40 giọt trước khi đi ngủ). Do lượng uống mỗi lần như thế rất ít, nên cần thêm nước chín để nguội vào để uống.

Lưu ý, không dùng tỏi trong trường hợp đang dùng thuốc trị bệnh đái tháo đường, hoặc đang dùng thuốc điều trị chứng máu loãng.

Lương y Phạm Như Tá

Theo - Thanhnien Online)

Khoai tây tốt cho da

Khoai tây sống có chứa nhiều khoáng tố potassium, sulphur, phosphorous rất có lợi cho da.Ngoài ra, trong dịch ép củ khoai tây còn có sự hiện diện của các vitamin, enzyme, hợp chất kháng ô xy hóa có tác dụng “nâng cấp” da và kháng khuẩn. Vỏ của khoai tây có hiệu quả rất cao trong việc chữa trị các rối loạn về da. Vì vậy, khi ép khoai tây để dùng cho da, tốt nhất nên để nguyên vỏ, dĩ nhiên là phải rửa sạch.


Những lợi ích của khoai tây cho da bao gồm: ngăn ngừa mụn trứng cá, mụn nhọt, mụn đầu đen; giúp làm dịu da khi bị vết thương, vết phỏng, vết cắt...; hỗ trợ da khi bị nổi mụn cóc; giúp xóa những quầng đen trên mắt, tẩy dầu nhờn trên da mặt...

Sau đây là những ứng dụng phổ biến: Bào khoai tây càng nhuyễn càng tốt rồi phủ lên mặt làm mặt nạ trong 20 phút, rửa lại bằng nước ấm có pha ít giấm (1 chén nước pha 2 muỗng giấm). Xay 1 củ khoai tây nguyên vỏ chung với 1 quả dưa leo còn nguyên vỏ, cho vào 1 lòng đỏ trứng, 1 muỗng yogurt, tiếp tục xay cho đến khi thành hỗn hợp mịn. Dùng hỗn hợp này làm mặt nạ cho da trong 20 phút rồi rửa lại bằng nước ấm.

Để trị các loại mụn, mụn cóc, chà nhẹ lát khoai tây tươi trên vết mụn 3 lần/ngày. Để trị da nhờn, ép vài củ khoai tây lấy dịch, cho vào 1 viên vitamin C và để vào tủ lạnh 30 phút. Sau đó, dùng bông gòn thấm vào dịch này thoa đều trên da mặt. Dịch này có tác dụng tẩy chất nhờn, chất bẩn và vi khuẩn bám trên da mặt.

Theo-Người lao động

Hồng xiêm: Vị thuốc trị tiêu chảy

Cây hồng xiêm quen thuộc với mọi người, là một loài cây thân gỗ, sống lâu năm. Có quả hai lần trong năm, quả hình cầu hoặc hình quả trứng thon dài và chứa từ 2 - 10 hạt, vỏ có màu nâu - vàng nhạt. Bổ quả thịt có màu nâu ánh đỏ, hạt của nó có màu đen.
Miền Bắc gọi là hồng xiêm, bà con miền Nam gọi là quả sa-pô-chê. Quả hồng xiêm khi xanh chứa tanin (nhưng khi quả chín thì không còn), 2-3% dầu và acid cyanhydric. Hạt chứa chất nhựa dầu; vỏ hạt chứa 20% dầu béo; 1% saponin và 0,08% chất đắng sapotinin. Người cao tuổi, trẻ em, người yếu mệt mới ốm dậy ăn đều tốt.
 

Ngoài giá trị dinh dưỡng , hồng xiêm còn được dùng làm thuốc chữa bệnh. Quả hồng xiêm còn xanh là một vị thuốc chữa tiêu chảy tốt vì có chứa nhiều tanin.
 
Quả hồng xiêm có vị ngọt, tính mát; có tác dụng bổ mát, sinh tâm dịch, giải khát, nhuận tràng. Vỏ cây bổ và hạ nhiệt; trong vỏ cây có một chất tan trong nước có thể hỗ trợ trị lao; hạt lợi tiểu.
 
- Chữa tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa do ăn nhiều mỡ, đạm: Quả hồng xiêm còn xanh 15 - 20g, cho 200ml nước, đun nhỏ lửa còn lại 100ml, chia làm hai lần uống trong ngày. Uống sau ăn 15 phút. Uống 3 - 5 ngày.
 
Có thể thay thế 6 - 10g vỏ thân cây hồng xiêm, rửa sạch, cho 250ml nước, sắc sôi 15 phút còn 100ml nước, chia 2 lần uống trong ngày.
 
- Chữa táo bón, ăn kém, kiện tỳ: Những người bị táo bón ăn mỗi bữa vài quả hồng xiêm chín (mỗi ngày ăn hai bữa, mỗi bữa hai quả) chỉ mấy hôm sẽ hết táo. Có thể ăn  mỗi ngày từ 3 đến 5 quả.
 
Có thể lấy lá hồng xiêm 20g, vỏ quả quýt 10g, thủy xương bồ 5g, cho 400ml nước sắc còn 150ml, ngày một thang, chia 2 lần. Dùng liền 5 ngày.
 
- Lợi niệu, giảm sốt: Hạt hồng xiêm 5g nấu nước sắc uống, có thể thêm  lá tre 100g; cho 450ml nước sắc còn 150ml nước, chia ngày 2 lần, uống lúc còn nóng.    

Theo-SK&DS

Cách cấp cứu khi hạ đường huyết

Hạ đường huyết hay chứng hạ đường huyết là sự giảm lượng đường (glucoza) trong máu xuống dưới mức bình thường (dưới mức 3,9-6,4 mmol/lít). Đây là một bệnh thể dịch, một bệnh sinh hóa, ảnh hưởng rất lớn đến các chức năng và hoạt động của cơ thể con người, có thể gây ra nhiều rối loạn cho sức khoẻ, thậm chí là rất nguy hiểm. Vậy khi bị hạ đường huyết, chúng ta cần làm gì?

Khi tế bào não không được cung cấp glucose, người bệnh rơi vào tình trạng rối loạn suy nghĩ, mất định hướng, nhức đầu, lên cơn co giật, bất tỉnh, hôn mê, Có nhiều nguyên nhân gây nên hạ đường huyết, bao gồm:

Bỏ bữa dễ gây hạ đường huyết.

Chế độ dinh dưỡng : Hạ đường huyết do ăn không đúng bữa (ăn trễ giờ so với bữa ăn bình thường) hoặc bỏ bữa (đặc biệt là bữa ăn sáng); do ăn kiêng ở những người có thể trạng béo, dẫn đến tình trạng không đủ lượng cacbonhydrat (tinh bột) hoặc do uống nhiều rượu bia, đặc biệt lúc đang đói (vì rượu bia dễ mang đến cảm giác no ảo).

Do bệnh lý mạn tính như: tiểu đường, các bệnh về gan, thận, ung thư tuyến tụy…

Dấu hiệu của hạ đường huyết

Các dấu hiệu của hạ đường huyết không giống nhau ở mỗi bệnh nhân. Nhưng thường xuất hiện vào lúc sắp đến bữa ăn và có một hay nhiều dấu hiệu chung sau: Mệt đột ngột không giải thích được; đau đầu, chóng mặt lả đi; cảm giác đói cồn cào; vã mồ hôi; tê buồn chân tay; chân có cảm giác nặng; lo lắng bứt rứt; run tay; hồi hộp, tim đập nhanh; có khi buồn nôn và nôn.

Làm gì khi bị hạ đường huyết?

Với người bình thường bị hạ đường huyết: Khi có các triệu chứng của hạ đường huyết, ngay lập tức phải cho bệnh nhân ăn nhẹ cháo loãng, súp, các sản phẩm có đường có sẵn như: bánh , kẹo hoặc uống một cốc nước đường (200ml)…Sau khi ăn nên để người bệnh nằm nghỉ ngơi yên tĩnh.

Với người mắc  các bệnh mạn tính:  như tiểu đường, gan, thận… thì người bệnh cần chuẩn bị sẵn đường, bánh, kẹo, khi thấy đói thì ăn ngay. Ở bệnh nhân đái tháo đường, khi được điều trị bằng insulin, phải tiêm thuốc vào trước bữa ăn 1-2 giờ. Nếu sau khi tiêm insulin, thấy người khó chịu, bủn rủn thì ăn một ít đường. Trường hợp nghi ngờ có khối u tụy cần làm siêu âm, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng; nếu có u thì tiến hành phẫu thuật cắt bỏ, bệnh sẽ khỏi. Ngoài việc phòng ngừa và chuẩn bị trước cho các cơn hạ đường huyết, cần tuyết đối tuân theo lời chỉ dẫn của thầy thuốc trong việc dùng thuốc và ăn uống hằng ngày.

Để phòng bệnh, mọi người không nên nhịn đói, hoặc để cơ thể bị đói quá lâu, không nên nhịn ăn mà hoạt động thể lực quá mức. Nhất thiết không được bỏ bữa sáng, đặc biệt là người già, trẻ em, những người có bệnh mạn tính, cơ thể yếu. Nên ăn nhiều chất xơ và tập thể dục nhẹ nhàng, vừa sức thường xuyên.


Theo Báo Sức khoẻ & Đời sống

Cách chữa bệnh thấp khớp

Phong thấp hay tê thấp là một từ dân gian thường dùng để chỉ các chứng đau nhức hoặc nhức mỏi có liên quan đến bộ máy vận động của cơ thể, bao gồm gân, xương, khớp, bắp thịt.

Theo Tây y, những bệnh có liên quan đến từ “phong thấp” đều có bệnh danh rõ ràng như thấp tim, viêm đa khớp dạng thấp, loãng xương, viêm khớp, lao khớp, thoái hoá khớp, tùy bệnh mà dùng thuốc.

Theo Đông y, các bệnh phong thấp ở hệ vận động được gọi chung là chứng tý khi vệ khí của cơ thể suy yếu, các yếu tố phong, hàn, thấp là nguyên nhân gây bệnh chính cùng phối hợp tác động vào cơ thể qua da, lông rồi theo đường kinh lạc đi khắp cơ thể gây ra các rối loạn hoạt động của khí huyết, làm tắc nghẽn sự vận hành của khí huyết, sinh ra ứ trệ gây nên những triệu chứng như sưng, đau, mỏi, nặng nề.
 
Nguyên tắc điều trị là khu phong tán hàn, trừ thấp trục ứ bằng các bài thuốc sắc hoặc xoa bóp bấm huyệt hay chườm, xông, đắp tại chỗ đau. Trường hợp của bác đau mình nhức xương khi thời tiết thay đổi mà không có sưng nóng khớp thì dùng thuốc Đông y hoặc xoa bóp cũng sẽ có tác dụng giảm đau.

Theo-Sức khỏe đời sống

Điều trị hôi nách hiệu quả

Hôi nách là hiện tượng ra mồ hôi có mùi nặng hơn bình thường. Đây không phải là bệnh nhưng lại gây phiền toái cho bản thân và những người xung quanh.

Vì sao nách hôi?

Bình thường trên da có 2 tuyến mồ hôi: tuyến mồ hôi thông thường (còn gọi là tuyến mồ hôi nước) có chức năng tiết mồ hôi để điều hòa thân nhiệt, giữ độ ẩm cho da, làm da mịn màng, mềm mại và tuyến mồ hôi nhầy. Tuyến mồ hôi nhầy tiết ra một chất lỏng như dầu có thể có màu (do thành phần chất tiết có cholesterol và sắt).

Thông thường chất tiết ban đầu không có mùi nhưng do sự phân huỷ của các chất sừng (keratin) kèm một số acid amin, các chất hữu cơ với tác dụng của vi khuẩn khi lên tới mặt da tạo nên mùi đặc biệt, đôi khi mùi hôi có mùi giống mùi tỏi, mùi thuốc... Ở người hôi nách có sự cấu tạo đặc biệt nào đó của thành phần mồ hôi và chất bã do quá nhiều các hỗn hợp ammoniac và các acid béo.

Thêm vào đó sự phân huỷ của các chất sừng đã bị ngấm mồ hôi bởi vi khuẩn hoặc nấm có trong tuyến mồ hôi hoặc tuyến bã tạo nên tính chất “nặng mùi” của người hôi nách.

Dùng thuốc gì?

Hôi nách không nguy hiểm nhưng điều trị lại rất khó khăn. Nếu hôi nách nhẹ chỉ cần thường xuyên giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, đặc biệt là hai hố nách. Lau rửa hai hố nách bằng xà phòng hoặc nước chanh pha loãng 1-3% là được. Khi  về già các tuyến mồ hôi lớn sẽ co hẹp hôi nách bớt dần rồi tự khỏi.

Hôi nách không nguy hiểm nhưng điều trị lại rất khó khăn

Có thể dùng xoa vào nách một trong các bột sau:

- Bột acid salicilic (a-xít sa-li-si-lic) hoặc bột carbonat calci (các-bo-nát-can-xi) hoặc hỗn hợp bột gồm  acid salicylic 1g, acid boric (a-xít bo-ríc) 3g, tanin (ta-nanh) 3g, oxyd  (ô-xít) kẽm 3g, và bột talc  (tan) 30g.

- Có thể dùng phèn chua chưng lên trở thành dạng cục bột. Dùng tay bóp mịn hoặc nghiền thành bột mịn. Rửa sạch nách rồi bôi bột lên nách ngày 1-2 lần.

- Dùng hoạt thạch nghiền thành bột mịn, rửa sạch nách rồi bôi bột đó lên 1-2 lần/ngày. Sau vài ngày sẽ bớt hôi nách.

- Dùng dung dịch formain 2-3% hoặc dung dịch tanin 2-5% bôi lên nách  có tác dụng ức chế mồ hôi và trừ mùi hôi khét. Nên hạn chế ăn tỏi.

Ngoài ra, có thể hạn chế sự bài tiết mồ hôi bằng thuốc an thần, điều hoà thần kinh giao cảm bằng chạy điện hoặc chiếu quang tuyến tại chỗ hay phẫu thuật. Tuy nhiên các biện pháp trên phải do các thầy thuốc chuyên khoa thực hiện.

Theo: SK&DS

Chữa viêm họng bằng quả trám

Viêm họng, ho khan, ho do nóng, rát cổ, khản tiếng..., những chứng bệnh này đều có thể cải thiện nhờ quả trám.

Trám đen.

Trám có hai loại: trám đen và trám trắng. Trám dùng làm thuốc thường là trám trắng. Theo Đông y, quả trám vị chua, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc cá, giải say rượu, giải khát, thanh giọng, chống viêm…

Chữa ho, thanh nhiệt: Khi người bệnh thấy miệng khô, hay nhổ nước bọt, phổi ráo thì dùng 5 quả trám tươi bỏ hạt, 5 gr kim thạch hộc thái nhỏ, 5 gr rễ lau thái nhỏ, 5 gr mã thầy gọt vỏ, hai quả lê gọt vỏ, 10 gr mạch đông, 10 miếng ngó sen. Tất cả rửa sạch nấu với hai lít nước trong một giờ, sau đó để nguội, lọc lấy nước uống hằng ngày.

Phòng chữa bệnh đường hô hấp: 15 gr trám tươi bỏ hạt, đập giập, 250 gr củ cải tươi thái nhỏ. Ninh trong nồi đất, uống thay trà.

Chữa chứng viêm họng, ho khan, rát cổ, khản tiếng: 5 quả trám, 5 gr trà xanh, 20 gr mật ong. Đập giập quả trám, cho vào nồi đất đun 15 phút rồi rót vào cốc đã có sẵn trà xanh, mật ong, hãm 10 - 15 phút rồi uống.

Chữa chứng sâu răng: Quả trám đốt thành than tán nhỏ, trộn một ít xạ hương bôi vào chỗ đau. Chú ý: Phụ nữ mang thai không nên ngửi mùi xạ hương.

Chữa chứng viêm tắc mạch máu: Lấy quả trám trắng 200 gr luộc chín, ăn cái, uống nước hằng ngày. Mỗi liệu trình là 1 - 2 tháng.

Uống đồ lạnh dễ bị viêm họng cấp tính

Thời tiết nắng nóng kéo dài khiến không ít người đam mê nước đá lạnh, đồ uống lạnh, tắm nước lạnh hay ngồi trong phòng điều hòa lạnh. Tuy nhiên, nếu để bị lạnh đột ngột rất dễ dẫn đến viêm họng đỏ cấp tính, bệnh chiếm tới 90% trường hợp bị viêm họng.

Uống đồ lạnh dễ bị viêm họng cấp tính

Lạnh đột ngột và virus là thủ phạm gây viêm họng đỏ cấp tính

Nguyên nhân thường gặp nhất là lạnh đột ngột và có vai trò tham gia tích cực của vi sinh vật, nhất là các loại virus.

Virus thường chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng từ 60-80%) trong đó cần lưu ý các virus cúm và á cúm, virus đường ruột (Coxsackie). Vi khuẩn chiếm tỷ lệ thấp hơn (khoảng 40%) trong đó gặp nhiều nhất là các loại vi khuẩn gây bệnh cơ hội (vi khuẩn gây bệnh cơ hội là vi khuẩn bình thường có thể có ở một số người lành, chúng không bệnh, sống ký sinh trên cơ thể người nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi thì chúng trở nên gây bệnh), ví dụ như xoắn khuẩn Vencent, H. influenzae, S.pneumoniae, M.catarrhalis, liên cầu... Trong cơ chế gây bệnh, người ta thấy xuất phát điểm là do virus sau đó bị bội nhiễm vi khuẩn (có thể một loại vi khuẩn nhưng cũng có thể là các vi khuẩn phối hợp).

Viêm họng đỏ cấp tính xảy ra trong trường hợp nào?

Bệnh viêm họng đỏ cấp tính thường xảy ra đột ngột sau lạnh như tắm nước lạnh, tắm nơi không kín gió, có gió lùa, tắm xong không lau khô người mà mặc áo quần ngay. Bệnh cũng có thể xảy ra đột ngột khi đang ở ngoài phòng nóng vào ngồi ngay trước máy lạnh hoặc gặp thời tiết chuyển mùa đột ngột...

Triệu chứng đầu tiên là sốt cao kèm theo rét run, có khi đắp chăn dày vẫn không hết rét; Đau, rát họng. Đau họng như nuốt đau, uống nước, ăn cơm, thức ăn cũng bị đau. Một số người bệnh ngoài các triệu chứng trên còn thấy đau đầu và nhức mỏi các cơ, khớp. Người bệnh có thể có ho, lúc đầu là ho khan, sau một thời gian vài ba giờ là ho có đờm. Đờm có thể là đờm đặc hoặc đờm lỏng. Có một số trường hợp khi khạc đờm có thể thấy một ít máu đỏ kèm theo làm cho người bệnh rất lo lắng.

Nhiều trường hợp người bệnh thấy ngứa họng rất khó chịu; Có thể chảy nước mũi loãng hay nước mũi đặc. Đối với trẻ nhỏ, nếu bị viêm họng đỏ trên một cơ thể có viêm VA mạn tính mà do trực khuẩn mủ xanh gây nên thì có thể thấy nước mũi có màu xanh mà người ta thường gọi là "thò lò mũi xanh". Khám thực thể thấy họng đỏ, 2 amiđan sưng to, có nhiều hốc trong đó có mủ hoặc không. Niêm mạc họng, trụ trước, trụ sau đều đỏ và có nhiều tia máu. Nếu là đợt cấp của viêm họng mạn tính thì hơi thở thường hôi, nhất là trong trường hợp có kèm theo viêm mũi, xoang  mạn tính. Sờ nắn kiểm tra hạch góc hàm 2 bên có thể thấy hạch sưng to và đau.

Cần vệ sinh răng miệng, họng, mũi thường xuyên và hàng ngày.

Cần đánh răng sau khi ăn và trước, sau khi ngủ dậy làm sao tạo thành một thói quen, nhất là đối với trẻ em.

Nên tắm bằng nước ấm, nhất là những người mắc bệnh viêm họng tái đi tái lại nhiều lần. Tắm xong cần lau người khô trước khi mặc quần áo sạch bất kể là mùa nào. Sau tắm không nên ngồi trước quạt hoặc trong phòng điều hoà lạnh (bất kể là mùa lạnh hay mùa nóng).

Khi bị viêm họng cần đi khám ngay, tốt nhất là khám chuyên khoa tai mũi họng hoặc phòng khám đa khoa để nhanh chóng xác định bệnh và điều trị ngay từ những ngày đầu, không nên để bệnh xảy ra vài 3 ngày mới đi khám bệnh.

Không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình hoặc tự mua thuốc để điều trị vì làm như vậy không những bệnh không khỏi mà còn làm cho bệnh trầm trọng thêm, nhất  là trẻ em bị viêm họng bởi vi khuẩn liên cầu nhóm A. Khi trẻ bị viêm họng và xác định hoặc nghi ngờ bị bệnh do liên cầu nhóm A (test nhanh phản ứng ASLO thấy dương tính) cần cho trẻ được khám bệnh ở chuyên khoa nhi để được điều trị và tư vấn tiêm phòng thấp đúng theo quy định nhằm ngăn ngừa bệnh thấp tim xảy ra.

Theo: Sức khỏe & Đời sống

Bạn đau đầu ở dạng nào?

Đau đầu là một trong những loại bệnh thường gặp với các cấp độ từ sự khó chịu đến gây mệt mỏi, nó có thể kéo dài vài phút mỗi ngày. Hiểu rõ loại đau đầu, bạn sẽ biết cách “loại bỏ” chúng hiệu quả. Dưới đây là các dạng đau đầu phổ biến:


Đau đầu căng thẳng

Đây là loại đau đầu thường gặp và phổ biến nhất, chiếm gần 90% các trường hợp bị đau đầu.Đau đầu căng thẳng có khởi nguồn từ cột sống ở vùng cổ và các mô và cơ mềm xung quanh.

Nguyên nhân phổ biến nhất gây đau đầu căng thẳng là do mất sự liên kết giữa các đốt sống cổ ở trên, đặc biệt là đốt sống đội (C1), thường kết hợp với các điểm kích thích và tình trạng co thắt cơ ở cổ.

Khi đốt sống C1 thiếu đi sự liên kết và mất đi sự chuyển động thích hợp, một cơ nhỏ ở phía trên cổ là rectus capitis bị co thắt. Cơ này là độc nhất và chỉ cần 1 sự căng thẳng nhỏ cũng sẽ lập tức tác động tới tủy sống. Vì tự các mô não không phải là cảm biến đau  mà là ngoài màng cứng (dura), nơi tiếp nhận cảm giác đau. Vì vậy khi cơ này co thắt và làm ảnh hưởng tới dây thần kinh sống, nó sẽ gây đau lan rộng và đau xung quanh gáy và quay ngược lên đầu, gây đau đầu.

Đau đầu canưg thẳng thường kéo dài khoảng 20 phút đến vài ngày vào bất kỳ thời điểm nào. Một số người bị đau đầu căng thẳng mãn mà kéo dài tới hàng năm. Hững người ngồi bàn giấy hay những người làm việc với máy tính hay bị đau đầu căng thẳng thường xuyên hơn bởi vì cổ của họ thường xuyên ở trong tình trạng căng thẳng.

Việc nắn khớp có thể giúp điều chỉnh vị trí của cột sống, đặc biệt là đốt sống C1, giúp giảm áp lực đối với ngoài màng cứng và từ đó giảm đau đầu. Một cách điều trị khác là dùng thuốc giảm đau kết hợp với các loại thuốc đặt trị và thuốc phòng ngừa. Thuốc giảm đau không giúp giảm đau đầu nhưng chúng có thể giúp giảm đau tạm thời.

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy sự liên quan giữa việc nắn xương khớp với hiệu quả điều trị đau đầu. Theo đó, nghiên cứu của ĐH Duke năm 2001 chỉ rõ: sự vận động cột sống đối với các trường hợp đau đầu do căng cơ cổ cho hiệu quả giảm đau ngay lập tức và ít tác dụng phụ, giảm đau kéo dài hơn hẳn dùng thuốc.

Đau nửa đầu

Đau nửa đầu là một dạng đau nhói và xảy ra rất nhanh, thường liên quan với tình trạng nhạy cảm với ánh sáng, âm thanh, buồn nôn và nôn vọt. Chúng có thể kéo dài từ 1 giờ tới vài ngày. Nhiều trường hợp đau đầu trong số này thường là do nhiễu thị giác và được biết đến như “một hiện tượng thoáng qua” và có thể gây ra do ánh sáng chói lòa hay 1 giấc mơ.

Phần lớn những người bị đau nửa đầu là phụ nữ và nó cũng thường liên quan với gene. Những người bị đau nửa đầu thường chỉ đau 1 bên đầu nhất định mặc dù cảm giác nặng cả đầu.

Nguyên nhân là do những thay đổi thất thường trong co thắt và giãn của các tĩnh mạch. Sự co thắt thường do tiếp xúc với ánh sáng chói lòa khiến tốc độ dòng máu chậm lại và rồi sự giãn nở ngắn sau đó gây ra tăng áp lực và hậu quả là đau đầu.Các nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng một chế độ ăn không chất axit amino tyramine (rượu vang, xúc xích, pho-mát…) sẽ giúp giảm sự nhạy cảm và các cơn đau đầu thường xuyên.

Đau đầu do bệnh tật

Đau đầu do bệnh tật thường diễn ra rất dữ dội và vị trí có thể nửa đầu nhưng thường là có cảm giác như ở sau mắt và nó thường chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn. Những loại đau đầu này không như đau nửa đầu, thường gặp ở nam giới và thường diễn ra vào buổi đêm.

Đây cũng là dạng đau đầu gây đau đớn nhất và kéo dài từ vài phút tới vài giờ, có thể lặp lại vài lần trong ngày và kéo dài trong vài ngày.Sau khi các cơn đau đầu này qua đi, thì thường sẽ là hàng tháng đến hàng năm sau nó mới diễn ra trở lại.

Nguyên nhân chính xác của hiện tượng này hiện chưa rõ nhưng theo các nhà khoa học, có thể là do sự co thắt và giãn nở của các mạch máu ở cổ.

Theo:Dân trí